HAI MƯƠI NĂM – MANG THEO MỘT HẠT MẦM
Hai mươi năm!
Con số chỉ thời gian ấy nghe thật dài khi ta còn là một cô học trò bé nhỏ lớp 10A khóa I của trường THPT Minh Phú. Nhưng lại vụt qua nhanh đến lạ khi ta đã bước qua tuổi đôi mươi, rồi đứng trước ngôi trường cũ với mái tóc đã có thêm vài sợi bạc.
Hôm nay, trở về trường THPT Minh Phú trong những ngày ngôi trường tròn hai mươi tuổi, tôi bỗng thấy mình như đang đi ngược dòng thời gian.
Vẫn là khoảng sân ấy nhưng hàng cây đã cao hơn rất nhiều. Vẫn là mái nhà chung nhưng đã thêm nhiều dãy phòng học, nhiều khu nhà đa năng. Vẫn là những ô cửa sổ năm nào nhưng giờ đây đã in bóng thêm nhiều thế hệ học trò. Tiếng trống trường đâu đó vang lên, tôi chợt đứng lặng!
Tôi đã từng là một trong những cô cậu học trò đầu tiên của ngôi trường này!
Ngày ấy, ngôi trường THPT Minh Phú còn rất trẻ. Và tôi cũng trẻ như “Minh Phú”. Chúng tôi cùng lớn lên. Và có lẽ, điều quý giá nhất mà trường THPT Minh Phú trao cho tôi không chỉ là những bài học trong sách vở. Có một bài học nằm ngoài trang sách, đến tận hôm nay tôi mới hiểu hết ý nghĩa của nó. Bài học ấy bắt đầu từ một giờ sinh hoạt của lớp 10A.
Hai mươi năm trước, trong ký ức của tôi khi ấy, cô Hiệu trưởng Trần Thị Lực không phải là một cái tên nghiêm trang trên bảng thông báo. Cô là cô giáo chủ nhiệm của chúng tôi, là người trực tiếp dạy môn Toán của lớp 10A và là người mỗi ngày bước vào lớp với ánh mắt vừa nghiêm khắc vừa ấm áp.
Chúng tôi sợ cô ở những bài kiểm tra khó, sợ ánh mắt cô khi cả lớp làm ồn nhưng lại luôn cảm thấy yên tâm mỗi khi có chuyện gì xảy ra. Bởi chúng tôi biết, cô không chỉ dạy chúng tôi cách giải một bài toán. Cô còn dạy chúng tôi cách làm người. Tôi nhớ một câu chuyện nhỏ xảy ra năm ấy.
Trong khối lớp 10 năm đó, có một bạn học sinh tên Q của lớp 10E – không rõ vì biến cố gì mà bạn thay đổi. Q bỏ bê việc học, hút thuốc, có những biểu hiện của tệ nạn xã hội, khiến thầy cô và bạn bè lo lắng. Trong mắt một cô bé tuổi chúng tôi lúc ấy, “ngoan” và “hư” dường như là hai phía rất rõ ràng. Một người đã “sa ngã” thì nghĩa là không còn đáng để chơi cùng. Q dần bị xa lánh, cô lập. Thậm chí, tôi còn có ý sợ không dám tiếp xúc với bạn.
Một hôm, câu chuyện ấy được cô chủ nhiệm đưa vào trong buổi sinh hoạt lớp. Cô Lực hỏi chúng tôi:
– Theo các em, nếu một người bạn đang thay đổi theo hướng xấu, chúng ta có nên tiếp tục chơi với bạn ấy không?
Tôi nhớ mình đã giơ tay. Và tôi nói, rất chắc chắn:
– Thưa cô, em nghĩ là không ạ!
Cô nhìn tôi. Tôi tiếp tục, bằng tất cả sự ngây thơ của một cô bé:
– Nếu bạn ấy đã hư thì mình không nên chơi cùng. Chơi với bạn ấy có khi mình cũng bị ảnh hưởng. “Gần mực thì đen” cô ạ!
Ngày ấy, tôi tin mình đúng. Tôi tin rằng tránh xa một người đang sa ngã là cách tốt nhất để bảo vệ bản thân. Tôi cũng tin rằng một người đã bước lệch khỏi con đường đúng thì việc của họ là tự quay trở lại. Nhưng cô Lực không gạt đi câu trả lời của tôi.
Cô chỉ nhẹ nhàng hỏi:
– Nếu ai cũng nghĩ như em thì khi một người mắc sai lầm, ai sẽ ở bên để giúp bạn ấy quay trở lại?
Tôi im lặng.
Cô nói tiếp, chậm rãi, như thể không chỉ nói với một cô học trò mà nói với tất cả chúng tôi:
– Chúng ta không đồng tình với việc làm sai của một người, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta được quyền bỏ rơi họ. Một người mắc lỗi vẫn là một con người. Và đôi khi, điều họ cần nhất không phải là thêm một lời phán xét mà là một người bạn biết nhắc nhở, biết kéo họ trở lại.
Tôi vẫn nhớ câu nói ấy. Nhưng thú thật, khi đó tôi chưa hiểu hết. Tôi vẫn là một cô bé. Trong thế giới của tôi ngày ấy, đúng là đúng, sai là sai. Tốt là tốt, xấu là xấu. Tôi chưa đủ trải nghiệm để hiểu rằng giữa “đúng” và “sai” còn có rất nhiều hoàn cảnh; giữa “một người tốt” và “một người xấu” còn có cả một quá trình con người đã đi qua.
Cô không bắt tôi phải thay đổi ngay. Cô chỉ gieo vào tôi một câu hỏi. Một câu hỏi mà tôi mang theo suốt hai mươi năm…
Sau này, tôi trở thành một giáo viên Ngữ văn. Có những ngày đứng trước học sinh, tôi bất giác nhớ đến cô giáo chủ nhiệm năm nào. Tôi hiểu rằng, dạy Văn không chỉ là dạy học sinh đọc một tác phẩm, nhận biết một hình tượng hay phân tích một câu thơ. Dạy Văn, trước hết, là dạy các em biết nhìn con người bằng một ánh mắt rộng hơn, bao dung hơn. Đọc một nhân vật mắc lỗi, ta không chỉ hỏi: “Nhân vật ấy đã làm gì sai?” Ta còn phải hỏi: “Vì sao họ lại trở thành như thế?” “Họ đã từng là người như thế nào?” “Điều gì đã đẩy họ đến bước đường ấy?” “Và liệu trong họ còn có khả năng trở về hay không?” Tôi nhận ra, đó cũng chính là điều cô Lực năm xưa đã dạy tôi, dù khi ấy cô chưa từng gọi tên bài học ấy bằng những khái niệm lớn lao.
Cô Lực đã dạy tôi biết phân biệt giữa việc không chấp nhận một hành vi sai và việc khước từ một con người. Cô dạy tôi rằng, lòng nhân ái không phải là bao che cho cái sai. Lòng nhân ái là biết nhìn thấy con người phía sau cái sai, biết nghiêm khắc với lỗi lầm nhưng không tuyệt vọng về một con người. Cô dạy tôi rằng thế giới không chỉ có trắng và đen. Một con người có thể lầm lỡ nhưng không vì thế mà mất đi quyền được yêu thương. Và giáo dục không phải là chọn những học sinh hoàn hảo để yêu thương mà là giúp mỗi học sinh trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình. Đó là ký ức về người thầy, người cô. Và đó là những “hạt mầm tử tế” được gieo xuống từ những ngày ta còn rất trẻ.
Sau này, khi đã đứng trên bục giảng, tôi mới hiểu vì sao cô không hề trách cô bé năm ấy. Bởi cô biết chúng tôi còn nhỏ. Cô biết những điều chúng tôi chưa hiểu thì cần được dạy bằng sự kiên nhẫn. Cô không bắt chúng tôi phải có ngay một tâm hồn nhân hậu. Cô chỉ lặng lẽ gieo một hạt mầm. Để rồi hai mươi năm sau, hạt mầm ấy mới đủ lớn để tôi nhận ra nó đã trở thành một phần trong cách tôi nhìn học trò của mình. Tôi muốn gọi tên hạt mầm ấy bằng hai chữ: “Nhân ái”.
Hai mươi năm trước, tôi là một học sinh của trường THPT Minh Phú.
Hai mươi năm sau, tôi tự hào là cựu học sinh khóa I của trường THPT Minh Phú.
Hôm nay, đứng giữa sân trường, tôi nhìn những học sinh đang ríu rít đi qua. Có những gương mặt rất giống chúng tôi ngày trước: cũng ánh mắt trong veo ấy, cũng những bước chân vội vã trước giờ vào lớp, cũng những tình bạn có khi hồn nhiên, có khi giận hờn, có khi tưởng như sẽ đi cùng nhau suốt cả cuộc đời. Tôi bất giác mỉm cười.
Cảm ơn THPT Minh Phú – nơi tôi không chỉ học cách giải những bài toán, viết những bài văn mà còn học được cách nhìn một con người bằng sự nhân ái và bao dung. Cảm ơn ngôi trường tuổi hai mươi đã cho tôi một tuổi học trò để nhớ, một người cô để biết ơn và một bài học để mang theo suốt cuộc đời. Từ THPT Minh Phú, tôi đã đi. Nhưng một phần của tôi vẫn ở lại nơi này. Và có lẽ, một phần Minh Phú cũng đã đi theo tôi – vào từng trang giáo án, vào mỗi giờ Văn, vào cách tôi nhìn những học trò đang lớn lên trước mắt mình. Khi đứng trên bục giảng của chính mình, tôi hiểu rằng sự tiếp nối ấy là món quà quý nhất mà cô Trần Thị Lực và THPT Minh Phú đã trao tặng.
Tôi tự hào về THPT Minh Phú!
Tôi trân trọng những ngày đã qua.
Tôi biết ơn những người đã “gieo hạt”.
Và tôi sẽ tiếp tục gieo những “hạt mầm tử tế” cho ngày mai!
Bài dự thi: Cuộc thi “Minh Phú trong tôi” năm 2026
Họ và tên: Nguyễn Thị Huế
Lớp: 10A – Khóa I – Niên khóa 2006–2009



